tctuvan

New Member
Bài giảng

Mục đích : Giúp :

- Thấy được giá trị nhiều mặt và ý nghĩa to lớn và của bản Tuyên ngôn Độc lập.

- Hiểu vẻ đẹp của tư tưởng và tâm hồn tác giả qua bản Tuyên ngôn Độc lập.

- Biết cách tìm hiểu một văn bản chính luận qua việc phân tích lập luận, lí lẽ và ngôn từ của tác phẩm.
A.Kiến thức cơ bản

I . Kiến thức chung

1. Hoàn cảnh ra đời


Tác phẩm ra đời trong hoàn cảnh lịch sử vô cùng đặc biệt :

19/8/1945 chính quyền ở thủ đô Hà Nội đã về tay nhân dân ta. 23/8/1945, tại Huế trước hàng vạn đồng bào ta, vua Bảo Đại thoái vị. 25/8/1945, gần 1 triệu đồng bào Sài Gòn - Chợ Lớn quật khởi đứng lên giành chính quyền. Chỉ không đầy 10 ngày, Tổng khởi nghĩa và Cách mạng tháng Tám đã thành công rực rỡ.

Cuối tháng 8/1945, tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Hà Nội, lãnh tụ Hồ Chí Minh soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập. Và ngày 2/9/1945; tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Người thay mặt Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trước hàng chục vạn đồng bào ta, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới Độc lập, Tự do.

Lúc này : cách mạng thành công nhưng nước ta đang ở tình thế ngàn cân treo sợi tóc .

Chiến tranh thế giới II sắp kết thúc , thực dân Pháp nấp sau quân đội Anh vào giải giáp vũ khí quân đội Nhật ở miền Nam nước ta. Phía Bắc , quân Tàu Tưởng , tay sai của để quốc Mỹ đang trực sẵn ở biên giới với mục đích tương tự .

Trong nước , bọn phản động tìm cách ngoc đầu dậy hòng lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ .

Trên thế giới , hội nghị các nước đồng minh thắng trận họp và giao ước : các nước thắng trận được trở lại thuộc địa cũ của mình ; các nước giành độc lập thì được trao quyền tự trị . Pháp thì tung dư luận quốc tế rằng nước ta là thuộc địa do Pháp bảo hộ , khai hóa , nay Pháp trơt lại cai trị là đương nhiên .

2. Mục đích, đối tượng :

Chính vì hoàn cảnh đặc biệt trên , bản Tuyên ngôn độc lập ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu cần kíp , tất yếu của lịch sử cách mạng Việt Nam :

- Hướng tới toàn thể nhân dân VN , nhân dân thế giới , đặc biệt là bọn thực dân đế quốc đang lăm le xâm chiếm nước ta .Làm cho quốc tế công nhận nền độc lập ấy .

- Tuyên bố nền độc lập của dân tộc.

- Ngăn chặn âm mưu xâm lược của các nước thực dân, đế quốc.

3 .Giá trị của bản TNĐL

a.Về lịch sử

Là một văn kiện có giá tri Ls to lớn:tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân ,phong kiến ở nước ta và mở ra kỉ nguyên mới độc lập tự do dân tộc.

b.Về văn học:

TNĐL là bài văn chính luận ngắn gọn,súc tích,lập luận chặt chẽ, đanh thép, lời lẽ hùng hồn & đầy sức thuyết phục -áng văn bất hủ .

4.Bố cục: gồm 3 đoạn .

- Đoạn 1:Cơ sở pháp lí của bản tuyên ngôn
- Đoạn 2: Cơ sở thực tiễn của bản tuyên ngôn.
- Đoạn 3: Lời tuyên bố độc lập
---> Bố cục cân đối ,kết cấu chặt chẽ .


II. Phân tích

1.Cơ sở pháp lí &chính nghĩa của bản TN:


Nêu và khẳng định quyền con người và quyền dân tộc:

- Trích dẫn 2 bản TNgôn:

+ Tuyên ngôn độc lập của Mĩ (1776)

+ Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp (1791)

-> nêu lên nguyên lí cơ bản về quyền bình đẳng, độc lập của con người .

* Ý nghĩa của viêc trích dẫn:

- Có tính chiến thuật sắc bén, khéo léo, khóa miệng đối phương.

-Khẳng định tư thế đầy tự hào của dân tộc( đặt 3 cuộc CM, 3 nền độc lập, 3 bản TN ngang tầm nhau.)

* Lập luận sáng tạo :

" Suy rộng ra.." “ -> từ quyền con người nâng lên thành quyền dân tộc.

* Tóm lại: Với lời lẽ sắc bén, đanh thép, Người đã xác lập cơ sở pháp lý của bản TN, nêu cao chính nghĩa của ta. Đặt ra vấn đề cốt yếu là độc lập dân tộc.


2.Cơ sở thực tiễn của bản TN:

a. Tội ác của Pháp:

*Tội ác 80 năm:lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng..nhưng thực chất cướp nước,áp bức đồng bào ta,trái với nhân đao& chính nghĩa.

-Chứng cứ cụ thể :

+ Về chính trị: không có tự do, chia để trị ,đầu độc , khủng bố.

+ Về kinh tế: bóc lột dã man

-Đoạn văn có giá trị của bản cáo trạng súc tích,đanh thép, đầy phẩn nộ đối với tội ác tày trời của thực dân

*Tội ác trong 5 năm(40-45)

- Bán nước ta 2 lần cho Nhật (bảo hộ?)

- Phản bội đồng minh ,không đáp ứng liên minh cùng Việt Minh để chống Nhật, thậm chí thẳng tay khủng bố ,giết nốt tù chính trị ở Yên Bái,Cao Bằng.

*Lời kết án đầy phản nộ,sôi sục căm thù. Vừa:

->vạch trần thái độ nhục nhã của Pháp (quì gối ,đầu hàng ,bỏ chạy..)

->đanh thép tố cáo tội ác tày trời (từ đó,...từ đó..)

Đó là lời khai tử dứt khoát cái sứ mệnh bịp bợm của thực dân Pháp đối với nước ta ngót gần một thế kỉ.

b. Dân tộc VN (lập trường chính nghĩa)

- Gan góc chống ách nô lệ của Pháp trên 80 năm ...

- Gan góc đứng về phe đồng minh chống Phát xít.

- Khoan hồng với kẻ thù bị thất thế.

-Giành độc lập từ tay Nhật chứ không phải từ Pháp .

*Phương pháp biện luận chặt chẽ , lô gích, từ ngữ sắc sảo. Cấu trúc đặc biệt,nhịp điệu dồn dập,điệp ngữ"sự thật "như chân lí không chối cải được.Lời văn biền ngẫu.

c.Phủ định chế độ thuộc địa thực dân Pháp và khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc

-Phủ định dứt khoát, triệt để...(thoát ly hẳn,xóa bỏ hết.....) mọi đặc quyền ,đặc lợi của thực dân Pháp với đất nước Việt Nam .

-Khẳng định mạnh mẽ quyền độc lập , tự do của dân tộc

*Hành văn;hệ thống móc xích- khẳng định tuyệt đối

3.Lời tuyên bố độc lập trước thế giới

- Lời tuyên bố thể hiện lí lẽ đanh thép vững vàng của Hồ Chủ Tịch về quyền dân tộc -tự do ( trên cơ sở lí luận pháp lí, thực tế ,bằng ý chí mãnh liệt của dân tộc )

-Tuyên bố dứt khoát triệt để .


III. Tổng kết:

TN ĐL thể hiện tư duy sâu sắc, cách lập luận chặt chẽ, ngôn ngữ chính xác, dẫn chứng cụ thể, đầy sức thuyết phục, thể hiện rõ phong cách chính luận và tư tưởng yêu nước thương dân , tự hào dân tộc sâu sắc của Hồ Chí Minh . Tuyên ngôn độc lập đã khẳng định được quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam .

TNĐL có giá trị lớn lao về mặt lịch sử, đánh dấu một trong những trang vẻ vang bậc nhất trong lịch sử đấu tranh kiên cường , bất khuất giành độc lập tự do từ trước đến nay và là một áng văn bất hủ của nền văn học dân tộc.

B . Củng cố kiến thức .

Đề 1: Phân tích ý nghĩa cách mở đầu của Tuyên ngôn độc lập.

Đề 2: Phân tích cơ sở thực tế của Tuyên ngôn độc lập.

Đề 3: Phân tích Tuyên ngôn độc lập để làm rõ hệ thống lập luận chặt chẽ của tác phẩm.

Đề 4: Phân tích phong cách nghệ thuật văn chính luận Hồ Chí Minh qua Tuyên ngôn độc lập.

Gợi ý giải đề

Đề 1:
- Ý nghĩa phần mở đầu trong một tuyên ngôn: nêu những nguyên lí chung, cơ sở pháp lí của tuyên ngôn.

Mô tả (mở đầu như thế nào)

Ý nghĩa (trọng tâm)

Trích dẫn sáng tạo

- Đánh giá:

Khẳng định: cách mở đầu xúc tích, khéo léo, sáng tạo.
Mở đầu cho hệ thống lập luận chặt chẽ của tác phẩm.

Đề 3:

- Khái quát: giá trị văn chính luận Hồ Chí Minh nói chung và Tuyên ngôn độc lập nói riêng.

Hệ thống lập luận chặt chẽ là một trong những giá trị nổi bật của tác phẩm.

- Phân tích hệ thống lập luận:

Phân tích theo 3 phần của bản tuyên ngôn, chỉ ra tính logic trong trình tự triển khai các luận điểm (hệ thống luận cứ)

- Tổng hợp:

Hệ thống lập luận chặt chẽ là một đặc điểm nổi bật không chỉ ở Tuyên ngôn độc lập mà trong tất cả các tác phẩm văn chính luận của Bác.

Hệ thống lập luận chặt chẽ kết hợp với lí lẽ sắc sảo, dẫn chứng chân xác, hùng hồn… tạo nên vị trí áng văn chính luận xuất sắc cho Tuyên ngôn độc lập.

Đề 4:

- Phong cách văn chính luận Hồ Chí Minh?

- Phân tích các đặc điểm

Ngắn gọn

Lập luận chặt chẽ (nêu hệ thống lập luận và sự logic trong trình tự triển khai qua các luận cứ)

Lí lẽ đanh thép.

Bằng chứng thuyết phục, giàu tính luận chiến.

Ngôn ngữ: hùng hồn, giàu tính biểu cảm

Tất cả xuất phát từ tình cảm nồng nàn, mãnh liệt với nhân dân, dân tộc.

- Tổng hợp:

Tuyên ngôn độc lập thể hiện rõ đặc điểm phong cách văn chính luận Hồ Chí Minh.

Vị trí văn học sử: áng văn chính luận xuất sắc.




Các điểm cần lưu ý

1. Hoàn cảnh sáng tác :

- 19/8/1945, CM8/1945 thắng lợi ở Hà Nội.
- 26/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc về tới Hà Nội. Tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Người soạn thảo Tuyên ngôn độc lập.
- 02/9/1945, tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Người thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đọc Tuyên ngôn độc lập trước hàng chục vạn đồng bào.
- Khi đó, đế quốc thực dân đang chuẩn bị chiếm lại nước ta. Dưới danh nghĩa quân Đồng minh vào giải giáp vũ khí quân đội Nhật, quân đội Quốc dân đảng Trung Quốc tiến vào từ phía Bắc, quân đội Anh tiến vào từ phía Nam, thực dân Pháp theo chân Đồng Minh, tuyên bố: Đông Dương là đất “bảo hộ” của người Pháp bị Nhật chiếm, nay Nhật đã đầu hàng, Đông Dương phải thuộc quyền của người Pháp.

2. Thể loại :
Văn chính luận.

3. Chủ đề :
Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện lịch sử có giá trị to lớn, một áng văn nghị luận bất hủ; tuyên bố xóa bỏ chế độ phong kiến tồn tại hàng nghìn năm, chấm dứt hơn 8 năm cai trị của thực dân Pháp ở nước ta và mở ra kỉ nguyên tự do, độc lập của dân tộc.

4. Bố cục:
Ba đoạn

5. Phân tích bản “Tuyên ngôn độc lập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh


5.1. Phần một : Nguyên lý chung (cơ sở pháp lý và chính nghĩa) của bản Tuyên ngôn.

- Cơ sở pháp lý và chính nghĩa của bản Tuyên ngôn Độc lập là khẳng định quyền bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của con người. Đó là những quyền không ai có thể xâm phạm được; người ta sinh ra phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.
- Hồ Chủ tịch đã trích dẫn 2 câu nổi tiếng trong 2 bản Tuyên ngôn của Mĩ và Pháp
=> Đề cao những giá trị hiển nhiên của tư tưởng nhân loại và tạo tiền đề cho lập luận sẽ nêu ở mệnh đề tiếp theo.
- Ý nghĩa của việc trích dẫn:
+ Có tính chiến thuật sắc bén, khéo léo, khóa miệng đối phương.
+ Khẳng định tư thế đầy tự hào của dân tộc (đặt 3 cuộc cách mạng, 3 nền độc lập, 3 bản tuyên ngôn ngang hàng nhau)
Câu văn “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” là sự khẳng định một cách hùng hồn chân lí thời
đại : Độc lập, tự do, Hạnh phúc, Bình đẳng của con người, của các dân tộc cần được tôn trọng và bảo vệ.
=> Đóng góp riêng của tác giả và của dân tộc ta vào một trong những trào lưu tư tưởng cao đẹp vừa mang tầm vóc quốc tế, vừa mang ý nghĩa nhân đạo cao cả.

5.2. Phần hai : Cơ sở thực tế của bản Tuyên ngôn.

* Bản cáo trạng tội ác thực dân Pháp:
- Vạch trần bộ mặt xảo quyệt của thực dân Pháp “lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta”: Về chính trị, văn hóa xã hội, kinh tế…
Sử dụng phương pháp liệt kê; câu văn ngắn dài, động từ mạnh, điệp từ, điệp cú pháp, ngôn ngữ sắc sảo, giọng văn hùng hồn.
- Trong vòng 5 năm (1940 – 1945) thực dân Pháp đã hèn hạ và nhục nhã “bán nước ta hai lần cho Nhật”. Thẳng tay khủng bố Việt Minh; “thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng”

=> Lời kết án đầy phẫn nộ, sôi sục căm thù:
+ Vạch trần thái độ nhục nhã của Pháp (quỳ gối, đầu hàng, bỏ chạy…)
+ Đanh thép tố cáo tội ác tày trời (từ đó,…từ đó..)

* Quá trình đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta:
- Từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Nhân dân ta đã nổi dậy giành chính quyền khi Nhật hàng Đồng minh.
- Nhân dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân và chế độ quân chủ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa. Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị.
- Chế độ thực dân pháp trên đất nước ta vĩnh viễn chấm dứt và xóa bỏ (thoát ly hẳn, xóa bỏ hết…) mọi đặc quyền, đặc lợi của chúng đối với đất nước ta.
- Trên nguyên tắc dân tộc bình đẳng mà tin rằng các nước Đồng minh “quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân tộc Việt Nam”:
=> Phần thứ hai là những bằng chứng lịch sử không ai chối cãi được, đó là cơ sở thực tế và lịch sử của bản Tuyên ngôn độc lập được Hồ Chí Minh lập luận một cách chặt chẽ với những lý lẽ đanh thép, hùng hồn: Đó là lối biện luận chặt chẽ, logic, từ ngữ sắc sảo, cấu trúc đặc biệt, nhịp điệu dồn dập, lời văn biền ngẫu, cách hành văn theo hệ thống móc xích…

5.3. Phần còn lại: Lời tuyên bố với thế giới.

- Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập (từ khát vọng đến sự thật lịch sử hiển nhiên)
- Nhân dân đã quyết tâm giữ vững quyền tự do, độc lập ấy (được làm nên bằng xương máu và lòng yêu nước).
=> Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử vô giá của dân tộc ta, thể hiện phong cách chính luận của Hồ Chí Minh.

5.4. Ý nghĩa văn bản:

- Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử vô giá của dân tộc Việt Nam.
- Kết tinh lý tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc và tinh thần yêu chuộng độc lập, tự do, hòa bình.
- Là một áng văn chính luận mẫu mực.
.
Bài làm cần đảm bảo các ý chính sau:

1. Tuyên ngôn Độc lập truớc hết là một văn kiện trính chị, lịch sử:

1.1.Tuyên ngôn Độc lập đối với dân tộc Việt Nam là một văn kiện có ý nghĩa chính trị, lịch sử to lớn.
Nó khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc, tư thế và chủ quyền của nhân dân đối với đất nước và ý chí quyết tâm bảo vệ chủ quyền ấy: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

1.2.Tuyên ngôn Độc lập được một người soạn thảo, một người đọc tác phẩm ấy, nhưng đó là tiếng nói của cả dân tộc, quốc gia, của một chính phủ:
... chúng tôi, Lâm thời chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố...; Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng... Do đó, Tuyêng ngôn Độc lập là văn kiện của cả quốc gia.

2.Tuyên ngôn Độc lập là áng văn chương mẫu mực của thời đại:

2.1.Tuyên ngôn Độc lập tuy là văn kiện chính trị, chứa đựng những nội dung chính trị, nhưng đây không phải là tác phẩm khô khan, trừu tượng.
Về hình thức, đây là tác phẩm thuộc thể văn chính luận. Đặc trưng văn chính luận là hệ thống lập luận chặn chẽ, với những lý lẽ sắc bén và những bằng chứng thuyết phục.

2.2.Tuyên ngôn Độc lập có hệ thống lập luận chặt chẽ, với những lý lẽ sắc bén, những bằng chứng thuyết phục.

- Tuyên ngôn Độc lập nhằm khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam. Nhưng trong hoàn cảnh Tuyên ngôn Độc lập ra đời, lời khẳng định đó không đơn thuần là một sự tuyên bố. Trái lại, để có ngày quốc khánh 2.9.1945, nhân dân ta đã phải làm cuộc tổng khởi nghĩa, cướp chính quyền từ tay thực dân, đề quốc. Và, con đường của dân tộc đang đứng trước biết bao thử thách khắc nghiệt. Bởi vậy, Hồ Chí Minh phải tranh luận, phản bác với những luận điệu của kẻ thù hòng phủ nhận quyền độc lập tự chủ đó.

- Trước hết, Hồ Chí Minh xây dựng một cơ sở pháp lý của chủ quyền dântộc Việt Nam. Cơ sở ấy là hai bản tuyên ngôn độc lập của nước Mĩ và tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của nước Pháp được tác giả trích dẫn nội dung cốt lõi: Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền đuợc sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc (tuyên ngôn của Mĩ) và Người ta sinh ta tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn được tự do à bình đẳng về quyền lợi (tuyên ngôn của nước Pháp). Từ những nguyên tắc ấy, Hồ Chí Minh suy rộng ra Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do và khẳng định Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được. Như vậy, trích dẫn tuyêng ngôn của các nước, Hồ Chí Minh nêu lên quyền độc lập tự do của các dân tộc, trong đó có dân tộc Việt Nam, là lẽ phải trong quan hệ quốc tế. Lẽ phải ấy không phải do người Việt Nam nghĩ ra, mà chính là do các nước lớn đó xác lập.

- Tiêp đến, Hồ Chí Minh đưa ra cơ sở thực tế của chủ quyền dân tộc Việt Nam.

+Thực dân Pháp đã chiếm lấy đất nước ta trên 80 năm à hiện giờ, đang lăm le tái chiếm. Để dọn đường cho cuộc xâm lược mới, chúng chuẩn bọ dư luận, rêu rao về quyền của chúng ở Việt Nam nói riêng, Đông Dương nói chung. Bởi vây, để khẳng định chủ quyền của dân tộc, phải phủ nhận quyền của thực dân Pháp đối với Việt Nam. Hồ Chí Minh phủ nhận bằng cách chứng minh ngược lại những lời rêu rao của chúng.

Về chính sách khai hoá: Thực dân Pháp luôn “kể công” của mình đối với Việt Nam cũng như các nước thuộc địa, xem đấy là công cuộc khai hoá, đem lại ánh sáng văn minh. Trước đây, trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần bản chất xấu xa, vô nhân đạo của chính sách khai hoá ấy. Ở đây, trong phạm vi của một bản tuyên ngôn, Hồ Chí Minh khái quát thành 5 tội ác về chính trị của thực dân Pháp:

Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

Chúng thi hành những luật pháp dã mam. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cẳn việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.

Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.

Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

Tội ác về kinh tế của thực dân Pháp đối với Việt Nam cũng được Hồ Chí Minh vạch trần, rất khái quát, đầy đủ:

Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tuỷ, khiến cho dân ta cùng kiệt nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.

Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.

Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.

Về chính sách bảo hộ: Thực dân Pháp luôn “kể công” với người Việt Nam và hết sức tuyên truyền với thế giới về sự “bảo hộ” của chúng ở Đông Duơng. Tuyên ngôn Độc lập vạch trần đấy không phải là “công”, mà là tội:

Mùa thu năm1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta cho Nhật (…) Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hay bỏ chạy, hay là đầu hàng.

Thế là đã rõ, chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật. Không những thế, vì sự bỏ mặc Đông Dương, đầu hàng phát xít Nhật, thực dân Pháp đã khiến Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, cùng kiệt nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kì, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.

Khi vạch trần thực chất việc “bảo hộ” Việt Nam của thực dân Pháp, Hồ Chí Minh còn gián tiếp chỉ ra một tội lỗi rất lớn của chúng. Đó là đầu hàng phát xí Nhật, phản bội Đồng minh!

Với những luận chứng rõ ràng, rành mạch đã đưa ra, thực dân Pháp đã không còn quyền gì đối với Đông Dương nói chung, Việt Nam nói riêng.

+Khẳng định dân tộc Việt Nam có quyền trên đất nước mình. Để khẳng định quyền ấy, Hồ Chí Minh đưa ra ba luận chứng:

Trái với thủ đoạn vô nhân đạo của thực dân Pháp, dân tộc Việt Nam mới là người bảo hộ đối với người Pháp:… đối với nguời Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chay qua biên thuỳ, lại cứu cho nguời Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản của họ. Nếu so sánh với cách đó không lâu, Truớc ngàu 9 tháng 3, biết bao lân Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chông Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thảng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa. Thậm chí đến khi thua chạy, chíng còn nhẫn tâm giết nốt số tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng thì sự thật càng rõ hơn ai bảo hộ cho ai, ai là kẻ phi nhân, ai giàu lòng nhân đạo.

Trước khi Nhật đến, Việt Nam là thuộc địa của Pháp. Nhưng từ mùa thu 1940, Việt Nam đã là thuộc địa của phát xít Nhật. Khi Nhật hàng Đồng Minh thi nhân dân ta cả nước đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Như vậy, dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp… Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thưc dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước công nghiệp độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hoà. Thực dân Pháp đâu còn quyền gì ở Việt Nam?

Pháp là quốc gia nằm trong khối Đồng Minh, nhưng lại phản bội Đông minh. Còn nhân dân Việt Nam, dưới lá cờ Việt Minh, đã tự nguyện đứng về phe Đồng Minh, đánh đuổi kẻ thù của Đồng minh là phát xít Nhật.

- Từ những cơ sở pháp lý và cơ sở thực tế hết sức đầy đủ, chặt chẽ, rõ ràng, Hồ Chí Minh đã đi đến tuyên bố Độc lập. Lời tuyên bố ấy bao gồm:

+Thoát li hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về nước Việt Nam, xoá bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.

+Các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng… quyết không thể không công nhận chủ quyền độc lập của dân Việt Nam.

+Dân tộc Việt Nam có quyền độc lập, tự do: Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp suốt 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phr Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!

- Hệ thống lập luận của Tuyêng ngôn Độc lập kết thúc ở đó, nhưng tác phẩm không dừng lại. Tinh thần độc lập, tự do của Tuyên ngôn Độc lập còn vang lên một lần nữa, mạnh mẽ hơn, khi hướng về tương lai, với ý chí mạnh mẽ của toàn dân tộc:

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

2.3.Tuyên ngôn Độc lập chứa đựng tình cảm nồng nhiệt, tâm huyết của nguời viết.

Khi Hồ Chí Minh đọc Tuyêng ngôn Độc lập, không ít người dân Việt đã khóc. Ngày nay, mỗi khi được nghe lại, đọc lại, nhiều người vẫn còn những cảm xúc ấy. Điều ấy có đuợc vì Tuyêng ngôn Độc lập đã chứa đựng tình cảm nồng nhiệt, với bao tâm huyết của tác giả.

- Lời văn Tuyêng ngôn Độc lập có lúc vang lên chắc chắn, vững chãi khi tác giả trích dẫn những bản tuyên ngôn của nước Mỹ, Pháp.

- Đau đớn, căm giận khi kể tội giặc Pháp.

- Sung sướng, tự hào với sức mạnh quật khởi nghĩa của nhân dân khi đứng lên đánh đuôie phát xít Nhật, giành lấy chính quyền.

- Quyết tâm sắt đá khi nói về sự bảo vệ quyền tự do và độc lập của dân tộc.

Chính vì chứa đựng rất rõ tình cảm, tâm trạng của người viết, một điều ít thấy ở văn bản chính luận nên Tuyên ngôn Độc lập không đơn thuần là một văn bản chính trị khô khan,thuần lí. Trong văn bản, đã có sự kết hợp khá nhuần nhuyễn giữa lí và tình. Nhờ đó, Tuyêng ngôn Độc lập có một giọng điệu riêng, mà âm hưởng chính vãn là hùng tráng, tự hào.

2.4.Tuyên ngôn Độc lập được viết bởi bàn tay điêu luyện của một bậc thầy về ngôn ngữ.

Sự điêu luyện về ngôn ngữ thể hiện ở nhiều mặt, chủ yếu là :

- Câu văn uyển chuyển, sinh động, theo nhịp của giọng điệu bản Tuyêng ngôn Độc lập; có những câu đơn, nhưng phần lớn là câu phức, nhiều mệnh đề. Ví dụ: câu Pháp chạy, Nhật hàng, ua Bảo Đại thoái vị là một câu phức nhưng hết sức ngắn gọn, mỗi mệnh đề đánh dấu một sự kiện, thể hiện được sự thay đổi mau lẹ của thời cuộc.

- Sử dụng hàng loạt cấu trúc trùng điệp.

+Trùng điệp về từ, ngữ: Dân ta… Dân ta… Chúng tôi… Chúng tôi… Một dân tộc… Một dân tộc…

+Trùng điệp về câu: Chúng thu hành… dã man; Chúng lập ba chế độ… đoàn kết; Chúng lập ra nhà tù… ; Chúng ràng buộc…

+Trùng điệp về nội dung theo chiều hướng tămg tiến ở nhiều cấp độ: Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp à Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, cùng kiệt nàn. Hoặc: Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật. Từ đó dân ta xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta cho Nhật, (…) Ngày 9 tháng 3 năm nay, nước Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hay bỏ chạy, hay đầu hàng.

- Văn chính luận nhưng có nhiều hình ảnh: thẳn tay chém giết; tắm các cuộc khởi nghĩa … bể máu; bóc lột đến xương tuỷ; nước ta xơ xác, tiêu điều; ngóc đầu lên; quỳ gối đầu hàng…
 

Các chủ đề có liên quan khác

Top